Chuyển đến nội dung chính

Lê Trường Tùng – Wikipedia tiếng Việt


Lê Trường Tùng

Le Truong Tung FPT.jpg
Sinh
Lê Trường Tùng
14 tháng 1, 1957 (61 tuổi)
Việt Nam Ba Đình, Thanh Hóa, Việt Nam
Nghề nghiệp
Tiến sĩ
Năm hoạt động
1980 - nay

Tiến sĩ Lê Trường Tùng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trường ĐH FPT - hiệu trưởng trường Đại học FPT (2006-2014), đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh khoá VII, chủ tịch Hội tin học thành phố Hồ Chí Minh, phó chủ tịch Hội Tin học Việt Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường ĐH-CĐ ngoài công lập. Ông là Tiến sĩ Toán - Lý.



Ông sinh ngày 14 tháng 1 năm 1957 tại phường Ba Đình, Thanh Hóa. Ông nguyên là học sinh chuyên toán Lam Sơn (Thanh hóa), học viên Khoá 9 Học viện Kỹ thuật quân sự, tốt nghiệp đại học tại khoa Toán, Đại học Quốc gia Moskva (MGU), bảo vệ Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Toán-Lý tại Học viện Kỹ thuật Quân sự.

Từ tháng 12 năm 1980 đến tháng 12 năm 1981: Ông thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Trung đoàn 132 thuộc Bộ Tư lệnh Thông tin.

Từ tháng 12 năm 1981 đến tháng 3 năm 2003: Ông là trợ lý nghiên cứu Viện Công nghệ Thông tin thuộc Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quân sự - Bộ Quốc phòng, cấp bậc từ Trung úy (1982) đến Thượng tá (1999). Trong thời gian này: Ông được bổ nhiệm làm Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Phát triển Công nghệ Thông tin Thành phố (tháng 12/1996 đến tháng 12/1998); Phó Chủ tịch Hội Tin học Thành phố (tháng 12/1997 đến tháng 3/2002);

Giám đốc Trung tâm đào tạo lập trình viên quốc tế Aptech (từ tháng 3/1999), Phó Giám đốc FPT Thành phố Hồ Chí Minh (từ tháng 1/2001); Chủ tịch Hội tin học Thành phố (từ tháng 3/2002), Tổng Giám đốc Học viện quốc tế FPT (từ tháng 01/2004).

Ông được phong quân hàm Thượng tá (9/1999), và chuyển ngành năm 2003. 2006-2011: Hiệu trưởng Trường ĐH FPT. 2012-2014: Chủ tịch HĐQT kiêm Hiệu trưởng Trường ĐH FPT. 2014 - nay: Chủ tịch HĐQT Trường ĐH FPT.



  • Huy chương Xuất sắc Học kỳ Lao động (1979) của Đội Lao động Sinh viên mang tên Gagarin, và Bằng khen của Liên đoàn Xây dựng Smolensk.

  • Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 1, 2, 3 ghi nhận thời gian công tác gần 20 năm trong quân đội.

  • HC Lao động FPT Hạng nhất 2003 (15 năm FPT), HC Độc lập FPT Hạng nhất 2008 (20 năm FPT), HC Sao vàng FPT 2013 (25 năm FPT) ghi nhận 15 năm gắn bó với FPT và Khối Giáo dục FPT.

  • Huy chương Vì Thế hệ trẻ của Trung ương Đoàn (1998).

  • Huy chương Vì sự nghiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật, của Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt nam (2005).

  • Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Bưu chính Viễn thông và CNTT Việt nam, Bộ Thông tin Truyền thông trao tặng (2008).

  • Huy hiệu Thành phố HCM (2011) ghi nhận 7 năm tham gia Hội đồng Nhân dân TP HCM.

  • Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Thông tin và Truyền thông Việt nam - Bộ Thông tin Truyển thông trao tặng (2014).

  • Giải thưởng Cá nhân tiêu biểu trong sự nghiệp CNTT TP HCM (2012).







Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Mậu dịch Nanban – Wikipedia tiếng Việt

Mậu dịch Nanban (tiếng Nhật: 南蛮貿易, nanban-bōeki , "Nam Man mậu dịch") hay "thời kỳ thương mại Nanban" (tiếng Nhật: 南蛮貿易時代, nanban-bōeki-jidai , "Nam Man mậu dịch thời đại") là tên gọi một giai đoạn trong lịch sử Nhật Bản, bắt đầu từ chuyến viếng thăm đầu tiên của người châu Âu đến Nhật Bản năm 1543, đến khi họ gần như bị trục xuất khỏi quần đảo này vào năm 1641, sau khi ban bố sắc lệnh "Sakoku" ( Tỏa Quốc ) [1] . Nanban (南蛮 "Nam Man") là một từ Hán-Hòa ban đầu dùng để chỉ người từ Nam Á và Đông Nam Á. Cách sử dụng của nó là từ Trung Quốc, vốn đặt tên rõ cho những người "dã man" ở bốn phía xung quanh mình, những người ở phương Nam được gọi Nam Man . Ở Nhật Bản, từ này có nghĩa mới khi nó được dùng để chỉ người châu Âu, người đầu tiên đến Nhật năm 1543, ban đầu từ Bồ Đào Nha, rồi đến Tây Ban Nha và sau đó là Hà Lan (mặc dù người Hà Lan thường được gọi là "Kōmō", 紅毛, nghĩa là "Hồng Mao") và Anh. Từ Nanban, m...

Thích Tâm Tịch – Wikipedia tiếng Việt

Hòa thượng Thích Tâm Tịch (1915 - 2005) là Đức Đệ nhị Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2005. Hòa thượng Thích Tâm Tịch có pháp hiệu Như Sơn, tên thật là Nguyễn Đình Khuê, sinh ngày 17 tháng 11 năm Ất Mão (23 - 12 -1915) tại phố Hội Bình, tỉnh Yên Bái (nay là phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái). Ông nguyên quán tại làng Định Công, huyện Thanh Trì, Hà Nội; cha là cụ ông Nguyễn Đình Văn, mẹ là cụ bà Lê Thị Cúc. Ông là con út trong gia đình có 6 anh chị em. Năm ông 4 tuổi, cha qua đời và sau đó 10 năm mẹ cũng tạ thế, khi đó ông vừa học xong cấp tiểu học. Ông tiếp tục học chữ và học nghề dưới sự dạy dỗ chăm lo của người anh là nhà giáo Nguyễn Văn Kính. Năm 16 tuổi, ông rời gia đình đi tìm học đạo. Thời gian này cũng là giai đoạn phong trào chấn hưng Phật giáo phát triển trên toàn quốc. Năm 20 tuổi, ông tìm đến gặp Tổ Vĩnh Nghiêm, tức Đức Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Hanh tại chùa Quán Sứ. Khi đó Tổ Vĩnh Nghiêm gửi Hòa thượng Thích Thái Hòa đưa ông về...