Chuyển đến nội dung chính

Hòa Điền, Tân Cương – Wikipedia tiếng Việt


Vị trí tại Trung Quốc

Địa khu Hòa Điền (tiếng Trung: 和田地区; Hán-Việt: Hòa Điền địa khu; bính âm: Hétián Dìqū, tiếng Uyghur: خوتەن ۋىلايىتى) là một địa khu thuộc khu tự trị Uyghur Tân Cương, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Địa khu Hòa Điền có diện tích 248.945,29 km², trong đó đồi núi chiếm 33,3%, sa mạc chiếm 63%, ốc đảo chiếm 3,7%. Địa khu Hòa Điền gối đầu vào dãy Côn Lôn Sơn và Khách Lạt Côn Lôn Sơn ở phía nam, phía bắc tiến sâu vào sa mạc Taklamakan. Địa khu Hòa Điền có khí hậu hoang mạc khô hạn, lượng giáng thủy hàng năm chỉ đạt khoảng 35 mm. Trên địa bàn địa khu Hòa Điền có 35 sông lớn nhỏ, hai sông lớn nhất là sông Khách Lạp Khắc Thập và sông Ngọc Long Khách Thập.[1] Địa khu Hòa Điền giáp khu vực Kashmir do Ấn Độ và Pakistan kiểm soát ở phía tây nam, địa khu này cũng quản lý Aksai Chin (A Khắc Tái Khâm) mà Ấn Độ tuyên bố chủ quyền.

Người Uyghur chiếm 96,3% dân số toàn địa khu Hòa Điền, người Hán chiếm 3,5% và các dân tộc khác chiếm 0,2%.[1]. Theo điều tra năm 2010, dân số địa khu Hòa Điền là 2.014.365 người.[2]

Trên địa bàn của địa khu Hòa Điền có sư đoàn nông nghiệp số 14 của Binh đoàn sản xuất và xây dựng Tân Cương.[1]










































































Hotan mcp.png
#
Tên
chữ Hán
Bính âm
Tiếng Uyghur
Chuyển tự Latin
Dân số (2003)
Diện tích (km²)
Mật độ (/km²)
1
Thành phố Hòa Điền (Hòa Điền)
和田市
Hétián Shì
خوتەن شەھىرى
Hoten Shehiri
270.000
466
579
2
Huyện Hòa Điền (Hòa Điền)
和田县
Hétián Xiàn
خوتەن ناھىيىسى
Hoten Nahiyisi
280.000
41.403
7
3
Huyện Karakax (Mặc Ngọc)
墨玉县
Mòyù Xiàn
قاراقاش ناھىيىسى
Qaraqash Nahiyisi
440.000
25.789
17
4
Huyện Bì Sơn (Guma)
皮山县
Píshān Xiàn
گۇما ناھىيىسى
Guma Nahiyisi
230.000
39.742
6
5
Huyện Lop (Lạc Phổ)
洛浦县
Luòpǔ Xiàn
لوپ ناھىيىسى
Lop Nahiyisi
240.000
14.314
17
6
Huyện Qira (Sách Lặc)
策勒县
Cèlè Xiàn
چىرا ناھىيىسى
Chira Nahiyisi
140.000
31.688
4
7
Huyện Keriya (Vu Điền)
于田县
Yútián Xiàn
كېرىيە ناھىيىسى
Kériye Nahiyisi
220.000
39.095
6
8
Huyện Dân Phong (Niya)
民丰县
Mínfēng Xiàn
نىيە ناھىيىسى
Niye Nahiyisi
30.000
56.760
1


Bản mẫu:Sơ khai Uyghur






Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Mậu dịch Nanban – Wikipedia tiếng Việt

Mậu dịch Nanban (tiếng Nhật: 南蛮貿易, nanban-bōeki , "Nam Man mậu dịch") hay "thời kỳ thương mại Nanban" (tiếng Nhật: 南蛮貿易時代, nanban-bōeki-jidai , "Nam Man mậu dịch thời đại") là tên gọi một giai đoạn trong lịch sử Nhật Bản, bắt đầu từ chuyến viếng thăm đầu tiên của người châu Âu đến Nhật Bản năm 1543, đến khi họ gần như bị trục xuất khỏi quần đảo này vào năm 1641, sau khi ban bố sắc lệnh "Sakoku" ( Tỏa Quốc ) [1] . Nanban (南蛮 "Nam Man") là một từ Hán-Hòa ban đầu dùng để chỉ người từ Nam Á và Đông Nam Á. Cách sử dụng của nó là từ Trung Quốc, vốn đặt tên rõ cho những người "dã man" ở bốn phía xung quanh mình, những người ở phương Nam được gọi Nam Man . Ở Nhật Bản, từ này có nghĩa mới khi nó được dùng để chỉ người châu Âu, người đầu tiên đến Nhật năm 1543, ban đầu từ Bồ Đào Nha, rồi đến Tây Ban Nha và sau đó là Hà Lan (mặc dù người Hà Lan thường được gọi là "Kōmō", 紅毛, nghĩa là "Hồng Mao") và Anh. Từ Nanban, m...

Lê Trường Tùng – Wikipedia tiếng Việt

Lê Trường Tùng Sinh Lê Trường Tùng 14 tháng 1, 1957 (61 tuổi) Ba Đình, Thanh Hóa, Việt Nam Nghề nghiệp Tiến sĩ Năm hoạt động 1980 - nay Tiến sĩ Lê Trường Tùng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trường ĐH FPT - hiệu trưởng trường Đại học FPT (2006-2014), đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh khoá VII, chủ tịch Hội tin học thành phố Hồ Chí Minh, phó chủ tịch Hội Tin học Việt Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường ĐH-CĐ ngoài công lập. Ông là Tiến sĩ Toán - Lý. Ông sinh ngày 14 tháng 1 năm 1957 tại phường Ba Đình, Thanh Hóa. Ông nguyên là học sinh chuyên toán Lam Sơn (Thanh hóa), học viên Khoá 9 Học viện Kỹ thuật quân sự, tốt nghiệp đại học tại khoa Toán, Đại học Quốc gia Moskva (MGU), bảo vệ Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Toán-Lý tại Học viện Kỹ thuật Quân sự. Từ tháng 12 năm 1980 đến tháng 12 năm 1981: Ông thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Trung đoàn 132 thuộc Bộ Tư lệnh Thông tin. Từ tháng 12 năm 1981 đến tháng 3 năm 2003: Ông là trợ lý nghiên cứu Viện Công nghệ Thông tin thuộc Trung ...

Thích Tâm Tịch – Wikipedia tiếng Việt

Hòa thượng Thích Tâm Tịch (1915 - 2005) là Đức Đệ nhị Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2005. Hòa thượng Thích Tâm Tịch có pháp hiệu Như Sơn, tên thật là Nguyễn Đình Khuê, sinh ngày 17 tháng 11 năm Ất Mão (23 - 12 -1915) tại phố Hội Bình, tỉnh Yên Bái (nay là phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái). Ông nguyên quán tại làng Định Công, huyện Thanh Trì, Hà Nội; cha là cụ ông Nguyễn Đình Văn, mẹ là cụ bà Lê Thị Cúc. Ông là con út trong gia đình có 6 anh chị em. Năm ông 4 tuổi, cha qua đời và sau đó 10 năm mẹ cũng tạ thế, khi đó ông vừa học xong cấp tiểu học. Ông tiếp tục học chữ và học nghề dưới sự dạy dỗ chăm lo của người anh là nhà giáo Nguyễn Văn Kính. Năm 16 tuổi, ông rời gia đình đi tìm học đạo. Thời gian này cũng là giai đoạn phong trào chấn hưng Phật giáo phát triển trên toàn quốc. Năm 20 tuổi, ông tìm đến gặp Tổ Vĩnh Nghiêm, tức Đức Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Hanh tại chùa Quán Sứ. Khi đó Tổ Vĩnh Nghiêm gửi Hòa thượng Thích Thái Hòa đưa ông về...